Những bệnh thường gặp trên cây dâu tây nếu ta chăm sóc không cẩn thận thì cây dâu tây rất dễ bị sâu hạt và sẽ làm cho năng xuất cây dâu tây giảm đáng kể Nhưng đồng nghĩa với
việc là cây dâu tây phát triển nhanh , luôn đi kèm với sâu bệnh hại đi kèm và
ta cực phải cẩn thận hơn và chú ý hơn rất
nhiều,sau đây em sẽ giúp mọi người cách
phòng chống những bệnh hại trên cây dâu tây và giúp cho cây dâu tây liên tục
phát triển và không phải quá lo về sâu bệnh hại trên cây dâu tây nữa.
1.
Nhện đỏ: Tetranycus Urticae
-
Triệu chứng: tấn công mặt dưới lá, làm cho lá non bị
chuyển sang màu vàng, là bị khô do cạn kiệt về dinh dưỡng, nhện tấn công lên
hoa làm cho nhị hoa bị chết không kết quả được.
-
Đặc điểm gây hại: Cả trưởng thành và ấu trùng đều sống tập
trung ở mặt dưới phiến lá của những lá non đang chuyển dần sang giai đoạn bánh
tẻ.
Nhện gây hại bằng cách chích hút dịch của mô tế bào
lá làm cho mặt trên của lá bị vàng loang lổ từng đám, hơi nâu ở phía dưới lá.
Ta có thể thấy một lớp mạng nhện nhỏ, mịn ở mặt dưới của lá. Nếu gặp điều kiện
thuận lợi nhện sinh sản rất nhanh, mật độ có thể lên đến vài chục con trên một
lá, làm cho từng mảng lá bị vàng, khô
cháy.
Hoa và trái cũng bị nhện gây hại. Nhện đỏ hút chất
dinh dưỡng trong trái làm cho trái bị vàng, sạm và nứt khi trái lớn. hoa có thể
bị thui, rụng.
-
Đặc điểm hình thái và quy luật phát sinh:
Nhện đỏ có kích thước cơ thể rất nhỏ, lấm tấm như
cám, mắt thường khó phát hiện. nhện trưởng thành dài 0,5-1mm, màu hồng, đỏ nhạt,
hình cầu (con cái), con đực nhỏ hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi,
hai đốt cuối màu đỏ chói, trên mình và thân có nhiều lông cứng. Giai đoạn trưởng
thành thường kéo dài từ 10-14 ngày.
Con trưởng thành đẻ trứng rời rạc ở mặt dưới phiến
lá. Qua kính lúp sẽ thấy trứng hình tròn, lúc mới đẻ có màu trắng hồng, sau đó
hoàn toàn chuyển sang màu hồng.
Trứng sau khi đẻ khoảng 4-5 ngày sẽ nở thành nhện
non. Ấu trùng có màu xanh lợt, lúc mới nở chỉ có 6 chân, từ tuổi 2 trở đi cho đến
khi trưởng thành chúng có 8 chân. Giai đoạn ấu trùng khoảng 6-9 ngày. Mỗi con
cái đẻ 1 lần từ 50-100 trứng.
Nhện đỏ thường phát sinh và gây hại nặng trong mùa
khô nóng hoặc những thời gian bị hạn trong mùa mưa.
Nhện đỏ lan truyền nhờ gió, nhờ những sợi tơ, mạng
nhện mà chúng tạo ra
- Phòng trừ: Dùng thiên địch, thuốc trừ nhện
Nissorun, Comite, Ortus, Oramíte,…
2.
Bọ trĩ: Thrip tabaci
-
Đặc điểm hình thái: Trưởng thành nhỏ, màu vàng xám, trứng
được đẻ trong mô ở các bộ phận non của cây, bọ trĩ cái đẻ trứng được 40-50 trứng.
Bọ trĩ non màu vàng nhạt, sống gây hại chung với bọ
trĩ trưởng thành. Bọ trĩ thuộc loại côn trùng biến thái trung gian, bọ trĩ non
chuyển sang giai đoạn nhộng giả có thể ở trong lá khô hay vỏ cây, nhưng chủ yếu
vẫn là ở trong đất.
Vòng đời của bọ trĩ là 17-20 ngày, một năm có thể có
khoảng 20 thế hệ bọ trĩ hoàn thành chu kỳ phát triển.
- Đặc điểm gây hại quy luật phát sinh: Bọ trĩ gây hại
chủ yếu trên hoa làm cho quả bị nhỏ, biến dạng. Ngoài ra chúng còn hại lá, búp
non và thân, chích hút nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất thu hoạch. Hoa bị
hại chuyển màu nâu. Tuy nhiên trái non vẫn tiếp tục lớn nhưng có màu vàng đồng.
Những trái bị triệu chứng này thường nhỏ và cứng, đồng thời những hạt trên bề mặt
trái dâu bị lồi ra, bề mặt trái dâu bị rạn và có màu đồng. Nếu cây bị nhiễm nhẹ
thì cây bên cạnh không bị ảnh hưởng, nếu cây và trái chín bị nhiễm quá nặng thì
bọ trĩ sẽ chuyển sang tấn công những cây bên cạnh và có thể lây lan trên khắp
vườn dâu.
-
Biện pháp phòng trừ:
Biện pháp canh tác: Bón phân đầy đủ, cân đối, tỉa bớt
lá già, thu gom tiêu hủy tàn dư.
Biện pháp hóa học: Hiện nay, Chưa có thuốc đăng ký
trong danh mục để phòng trừ đối tượng này. Có thể tham khảo sử dụng một số thuốc
có hoạt chất: Abamectin; Abamectin + Chlorfluazuron; + Abamectin + Emamectin
benzoate; Abamectin 1.8% + Matrine 0.2%.
3.
Sên, nhớt (Helix aspersa)
-
Đặc điểm hình thái và quy luật phát sinh: Vỏ ốc mỏng, có
4 đến 5 vòng xoắn, màu sắc thay đổi nhưng thường màu xám hạt dẻ nhạt, hay nâu
có những vệt hay đốm vàng. Thân ốc mềm và nhớt màu nâu xám, thu hết vào bên
trong vỏ khi không hoạt động. Khi hoạt động sên thò đầu và chân ra khỏi vỏ, đầu
có 2 đôi râu vòi. Các râu vòi có thể thu rút vào trong đầu. Sên thuộc loai động
vật ăn cỏ, ăn vào ban đêm, chúng ăn nhiều loại cây cỏ khác nhau.
-
Đặc điểm gây hại: Ốc sên thường xuyên có mặt trên đồng ruộng,
nhưng khi trời nắng thì chúng ẩn nấp ở nơi có bóng mát và ẩm ướt như lá chết,
nilon, đá để đẻ trứng. Vào ban đêm hoặc vào những ngày mưa ốc sên và nhớt bò ra
ngoài để gây hại. Những vết tổn thương này làm giảm đáng kể giá trị của trái và
tạo điều kiện để nấm bệnh xâm nhập và phát triển.
-
Biện pháp phòng trừ: Luôn giữ vườn dâu thông thoáng, tránh ẩm
độ không khí cao trên ruộng. Trong quá trình canh tác tỉa lá, thu trái nếu phát
hiện sên, nhớt phải thu bắt. Thu gom toàn bộ gạch, đá…trên ruộng để hạn chế nơi
cư trú của các loài sên nhớt. Sử dụng can nhựa có hòa các chất như bả bia hoặc
sữa chua để bẫy sên nhớt trên vườn dâu.
Hiện
nay, chưa có thuốc BVTV đăng ký để trừ sên nhớt hại dâu tây.
Bệnh
hại và biện pháp phòng trừ:
1.
Bệnh rối loạn sinh lý trên cây dâu tây:
a.
Thời tiết: Nếu trời lạnh nhị hoa sẽ bị chết dẫn đến hoa có màu
nâu, nếu thời tiết quá lạnh hoa sẽ bị chết, một số hoa đã thụ phấn sống sót làm
cho hoa bị biến dạng. Vào mùa lạnh, khi nhiệt độ quá thấp, tế bào bị đông đá,
phần gốc hóa nâu, cây sinh trường kém và mẫn cảm với sâu bệnh.
b. Cường độ sáng cao, tế bào sẽ bị chết, trên lá có
những dấu hình tròn.
c. Mưa đá gây dập lá, hoa, quả, tạo cơ hội cho nấm bệnh
xâm nhập, cây bị tổn thương lớn, tạo ra nhiều vết nâu trên lá do cây bị xước.
d. Rối loạn
dinh dưỡng:
-
Đạm:
Lúc đầu cây đầu cần nhu cầu đạm rất lớn, nếu thiếu đạm lá, quả sẽ nhỏ, cây cho
ra ít ngó, lá già chuyển sang màu cam hoặc đỏ, là non nhỏ và có màu xanh nhạt.
Thừa đạm làm giảm chất lượng của quả, cây dễ bị nhiễm bệnh.
Phân tích mẫu đất và dựa vào tình hình sinh trưởng,
triệu chứng của cây để điều chỉnh đạm cho phù hợp.
-
Kali: Cây thiếu kali là bị héo, lá già bị khô, quả dễ bị
thối.
Dùng Bicarbonate kali phun lên là có thể phòng ngừa
bệnh và cung cấp thêm kali cho cây; Cung cấp thường xuyên phân kali cho cây như
KNO3, K2SO4.
-
Boron: Thiếu Bo là một trong những nguyên nhân dẫn đến
trái dâu nhỏ hơn bình thường và dị dạng vì một vài chỗ trên trái bị teo lại và
không phát triển. Mùi vị của trái gần như bình thường nhưng không có giá trị về
mặt kinh tế.
Vi lượng Bo rất quan trọng trong quá trình thụ phấn.
Khi một hay nhiều hoa cái không được thụ phấn thì mô quả ở chỗ đó sẽ không phát
triển và làm cho trái bị dị dạng. Boron có chức năng quan trọng đối với bộ rễ,
vì vậy thiếu hụt Boron có thể làm cho cây dâu không hấp thu tốt các chất dinh
dưỡng.
-
Canxi: Khi lá còn non và chưa trải ra, đầu mút của lá đã bị
hoại tử và khô, vì vậy khi lá lớn lên đầu mút bị xoắn lại nhưng những phần khác
của lá vẫn phát triển bình thường khỏe mạnh. Những cây dâu phát triển quá nhanh
thường gây cản trở cho việc hấp thu canxi từ đất, mặt dù lượng canxi trong đất
rất dồi dào. Khí hậu khô, lạnh và nhiều mây gây cản trở rất nhiều đến việc hấp
thụ canxi của cây.
-
Thuốc trừ cỏ: Dùng thuốc trừ cỏ không đúng thuốc,
đúng liều cây sẽ bị chết, nên dùng thuốc trừ cỏ có chọn lọc, thuốc tiền nảy mầm
hoặc hậu nảy mầm.
e.
Bệnh bạch tạng (Physiological)
- Triệu chứng: khi trái dâu chin, trên trái dâu xuất
hiện những mảng màu trắng, làm giảm giá trị thẩm mỹ và hương vị dâu. Hơn thế nữa
những mảng trắng làm tăng nguy cơ xâm nhập của nấm gây thối trái.
- Nguyên nhân: Nguồn gốc của loại bệnh này có thể
liên quan đến sự sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh và hàm lượng đạm quá cao cùng
với điều kiện thời tiết ẩm thấp và trời nhiều mây, u ám.
2.
Các loại bệnh hại:
a.
Bệnh xì mủ lá: (Xanthomonas fragaria)
-
Triệu chứng: Vết bệnh là những đốm nhỏ sũng nước ban
đầu xuất hiện dưới bề mặt lá. Lá có màu xanh tái khi đưa ra ánh sáng mặt trời.
Sau đó các lá bị bệnh có thể bị khô héo và chết.
Quá
trình nhiễm bệnh: Vi khuẩn lan từ cây này sang cây khác,
từ lá già sang lá non do sự bắn toé nước khi trời mưa hoặc do tưới tiêu. Vi khuẩn
xâm nhập qua cửa khí khổng của lá. Để nhận biết bệnh, vào sáng sớm lật mặt lá
lên, ta có thể nhìn thấy chất dịch màu trắng như mủ chảy ra từ vết bệnh. Bệnh
gây hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.
-
Biện pháp phòng trừ: Sử dụng cây giống từ những vườn ươm sạch
bệnh.
Sau khi đã ngắt tỉa những lá bị bệnh phải tiến hành
thu gom để tiêu huỷ hoặc đốt, chôn xa ruộng dâu để diệt trừ triệt để những mầm
bệnh còn sót lại trên đồng ruộng.
Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, sử dụng lớp
phủ rơm cỏ khô để hạn chế sự bắn toé nước khi trời mưa, giữ cho ruộng dâu luôn
khô ráo và có phương pháp tưới hợp lý (nếu có điều kiện nên áp dụng hệ thống tưới
nhỏ giọt).
Nếu thực hiện một cách nghiêm túc các biện pháp trên
ta có thể khống chế bệnh một cách dễ dàng, ngay cả trong trường hợp cây bị nhiễm
bệnh nặng.
b.
Bệnh đốm đỏ: (Mycosphaerella fragariae)
-
Triệu chứng: Ban đầu trên lá xuất hiện những đốm
tròn màu tía, có thể nhìn thấy trên bề mặt lá. Đốm tròn lan rộng từ 3-6mm. Ở
trung tâm đốm có màu xám trắng, hoại tử, có quầng màu tím bao quanh đốm bệnh.
Ta có thể nhìn thấy những đốm đỏ ở mặt dưới của lá nhưng màu nhạt hơn. Bệnh gây
hại các giai đoạn sinh trưởng của cây.
Quá
trình nhiễm bệnh: Những bào tử trưởng thành gây hại ở cây
bệnh có thể lây qua cây mới do sự bắn toé nước khi tưới phun mưa hoặc khi trời
mưa to. Khí hậu ấm và ẩm thuận lợi cho bệnh đốm đỏ phát triển.
-
Biện pháp phòng trừ: Tỉa các phần bị bệnh và bị chết của
cây, tiêu huỷ chúng bằng cách đốt hoặc chôn ở xa ruộng dâu.
Dùng cỏ khô phủ đất để giảm sự bắn toé nước khi trời
mưa nặng hạt. Tránh làm bắn toé nước khi dùng hệ thống tưới phun mưa. Tưới nhỏ
giọt là biện pháp tốt để kiểm soát bệnh này.
c.
Bệnh phấn trắng: (Sphaerotheca macularis)
-
Triệu chứng: Ban đầu vết bệnh xuất hiện một lớp bột
trắng, ta có thể nhìn thấy sau mặt lá, nhưng trên mặt lá thân, hoa, và trái
cũng có thể bị nhiễm bệnh. Lá bệnh có khuynh hướng cuốn tròn lên phía trên và để
lộ sau mặt lá một lớp bột màu trắng. Những vùng bị nhiễm bệnh thường sẽ héo khô
và chết.
-
Quá trình nhiễm bệnh: Những vùng bị nhiễm bệnh có thể phân
tán một số lượng lớn mầm bệnh và theo gió và lây lan qua những cây khoẻ mạnh.
Nấm tự hình thành không phụ thuộc vào ẩm độ, ngay cả
trong điều kiện khô ráo, nấm vẫn có thể xuất hiện. Loại nấm này thường gặp nhiều
ở nhà kính và dàn che nilon hơn là canh tác ngoài trời. Nấm phấn trắng lây lan
rất nhanh và gây thất thu lớn đến sản lượng dâu và chất lượng trái. Bệnh gây hại
các giai đoạn sinh trưởng của cây nhưng ảnh hưởng nhiều ở thời kỳ cây đã ra
hoa, kết trái.
-
Biện pháp phòng trừ: Vệ sinh đồng ruộng, ngắt tỉa thường
xuyên các thân lá bị bệnh đem tiêu huỷ ở xa ruộng. Sử dụng nguồn giống sạch bệnh,
luân canh với các cây trồng không phải là ký chủ của bệnh phấn trắng.
Dàn che dâu phải cao, thông gió, lên luống cao tránh
úng vào mùa mưa.
Không trồng mật độ dày, tăng cường phân kali cho
cây.
d.
Bệnh mốc xám: Thối trái do Botrytis cinerea
-
Triệu chứng: Nấm Botrytis chủ yếu xuất hiện ở giai
đoạn quả chín, trong điều kiện ẩm ướt bệnh có thể gây hại nghiêm trọng. Biểu hiện
đầu tiên là những đốm nâu sáng xuất hiện, sau đó lan rộng cả trái và phủ một lớp
mốc xám.
Hoa và trái non cũng có thể bị nhiễm bệnh và làm cho
trái bị khô. Nhiệt độ tích trữ trái dâu đã thu hoạch càng cao thì mầm bệnh
nhanh chóng lây lan.
-
Quá trình nhiễm bệnh: Mầm bệnh có thể xuất phát từ lá, trái bị
nhiễm bệnh còn xót lại trên ruộng và lây lan bởi gió, ngoài ra mầm bệnh cũng có
thể đến từ bên ngoài ruộng nhưng điều đó không quan trọng.
Bệnh mốc xám phát triển rất mạnh trong điều kiện ẩm
độ không khí cao và bề mặt luống ẩm ướt trong điều kiện thời tiết mùa mưa.
-
Biện pháp phòng trừ. Thu dọn tất cả các tàn dư của cây bệnh
đốt hoặc chôn xa đồng ruộng. Sử dụng màn phủ bằng rơm hoặc lưới để ngăn trái
không tiếp xúc với đất trồng hoặc sự ẩm ướt.
Chọn đất trồng cao ráo, thoát nước tốt, lên luống
cao. Bón cân đối NPK, tăng cường Kali trong vụ mưa. Luân canh và xử lý đất trước
khi trồng.
Hạn chế sử dụng hệ thống tưới phun mưa, không tưới
vào buổi giữa trưa hoặc xế chiều vì thời gian này duy trì sự ẩm ướt sẽ kéo dài.
Giữ cho bề mặt luống dâu luôn được khô ráo. Trái đã thu hoạch nên bảo quản ở
nhiệt độ 2-40C để ngăn chặn sự sinh trưởng của nấm bệnh.
Lưu
ý:
Trong thời gian ẩm độ đất và ẩm độ không khí cao phải rút ngắn thời gian giữa 2
lần phun từ 3-4 ngày xử lý 1 lần mới có khả năng hạn chế được bệnh. Phun kỹ vào
các chùm trái, giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc với nồng độ cao sẽ làm
trái dị dạng. Trong vùng đã bị kháng thuốc thì phải thay đổi và sử dụng luân
phiên các loại thuốc trừ nấm khác nhau. Dưới điều kiện mưa nhiều và kéo dài thì
nấm bệnh rất khó kiểm soát.
e.
Bệnh cao su: Thối trái do Phytophthora cactorum
-
Triệu chứng: Cả trái non và trái chín đều bị biến
màu. Trái xanh dễ bị cứng và chuyển sang màu nâu. Trái già chuyển sang màu trắng
tái, màu đỏ hoặc hơi nâu và hơi mềm. Trái bị bệnh trở nên khô, teo nhỏ lại và
dai như cao su.
Triệu
chứng đặc biệt của bệnh này là trái bị mất hương, vị
có mùi khó chịu. Trái bị bệnh có mùi dầu nhớt xe và có vị đắng.
-
Quá trình nhiễm bệnh: Nấm có trong đất và xâm nhập lên trái
do sự bắn tóe nước khi trời mưa hoặc tưới nước hoặc do trái tiếp xúc với đất trồng.
Bệnh lây lan và phát triển nhanh vào mùa mưa và ẩm độ
không khí cao.
-
Biện pháp phòng trừ: Để kiểm soát bệnh này, cần phải kiểm
soát lượng nước. Cách ngăn chặn, phòng ngừa rẻ tiền và hiệu quả là dùng màng phủ.
Màng phủ cỏ khô và rơm là tốt nhất. Nhưng lớp màn phủ phải đủ dày để trái không
bị tiếp xúc với đất trồng và không bị ảnh hưởng bởi sự bắn tóe nước. Biện pháp
tốt nhất là phủ một lớp cỏ hoặc rơm khô lên bề mặt đất trồng sau đó phủ một lớp
lưới lên trên lớp cỏ. Biện pháp này giúp cho trái dâu được khô ráo, không những
ngăn ngừa được bệnh cao su mà còn ngăn ngừa được nhiều bệnh khác.
g.
Bệnh đốm đen (Colletotrichum acutatum)
-
Triệu chứng: Khi trái chín, xuất hiện những đốm tròn
có màu nâu. Những đốm tròn sạm màu và sau đó biến thành màu đen hoàn toàn. Nếu
trái bị nhiễm bệnh trước khi chín thì toàn bộ trái sẽ bị đen và héo.
Trong quá trình vận chuyển, tích trữ, nguồn bệnh vẫn
tiếp tục lây lan làm cho trái bị hư hỏng nặng hơn. Đây là vấn đề đáng quan tâm.
-
Quá trình nhiễm bệnh: Những ngó dâu đã bị nhiễm bệnh ngay từ
lúc trồng thường không thấy xuất hiện triệu chứng bệnh. Trong ruộng dâu, nấm bệnh
có thể lây lan do sự bắn tóe nước khi tưới hoặc do trời mưa nặng hạt hoặc do
quá trình chăm sóc cắt tỉa và thu hái. Cây có quá nhiều đạm cũng rất dễ nhiễm bệnh.
h.
Bệnh thối đen rễ dâu tây
-
Triệu chứng gây hại: Thường bắt đầu ngay trong năm đầu tiên
cho quả. Các tổn thương sẽ biểu hiện rõ nhất trong khu vực đất thấp hoặc nơi có
sự thoát nước kém. Cây bị bệnh tăng trưởng kém, thiếu sức sống, còi cọc. Cây sẽ
bị khủng hoảng nước do nhu cầu nước trong quá trình sinh trưởng cao, trong hoặc
sau khi cho quả rộ, hay bị hạn hán.
Trên
lá:
Lúc đầu lá bị đỏ như luộc từ ngoài rìa lá vào sau khô quắt, rũ làm cây héo hết
lá.
Rễ bị thâm đen, ở giữa mạch lybe của trung trụ bị thối
lan rộng dần.
Thân bị bệnh cắt ngang thân phần gỗ lúc đầu chuyển
sang màu nâu vàng, khi cây héo và chết vết thâm lan rộng hết phần lõi và chuyển
sang nâu đậm.
Những cây bị bệnh thối rễ thường tạo điều kiện cho
các loại nấm bệnh khác phát triển và gây hại cuống lá, lá và quả.
- Nguyên nhân, điều kiện phát sinh phát triển của bệnh:
Thối đen rễ là do sự tương tác phức tạp của nấm, tuyến trùng và các yếu tố môi
trường gây nên. Những nghiên cứu của Cục BVTV Nhật Bản từ tháng 5/1973 đến
tháng 12/1974 cho thấy một số loại nấm có liên quan đến căn bệnh bao gồm
Rhizoctonia spp, Pythium spp. va Fusarium spp. Khi rễ cây có mặt tuyến trùng
gây tổn thương thì bệnh thường nặng hơn. Bệnh thường xảy ra ở các vùng thấp, dễ
ngập nước, trên đất đầm hoặc khi chất hữu cơ thấp.
Thường sẽ có một hoặc nhiều chủng loại nấm tấn công
gây hại. Kết quả bước đầu phân tích, tác nhân gây hại tại Đà Lạt là loại nấm
Pythium spp và Fusarium spp. Những yếu tố môi trường thuận lợi cho thối đen gốc
bao gồm đất thoát nước kém, tổn thương do nhiệt độ thấp, sự mất cân bằng dinh
dưỡng và ảnh hưởng của thuốc diệt cỏ, bệnh sẽ trở nên phức tạp và khó kiểm
soát.
Ghi
chú:
Thực hiện biện pháp phòng trừ tổng hợp đạt kết quả cao hơn sử dụng đơn lẻ
phương pháp hóa học. Chỉ sử dụng các loại thuốc BVTV có tên trong Danh mục thuốc
BVTV được phép sản xuất, kinh doanh và sử dụng tại Việt Nam.
.
Phòng trừ dịch hại tổng hợp
Áp
dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM
1. Biện pháp canh tác kỹ thuật: Vệ sinh đồng ruộng sạch
sẽ, cắt tỉa các lá già vàng úa tiêu hủy, luân canh cây trồng khác họ, chọn giống
khỏe, sức đề kháng sâu bệnh tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Bón phân cân đối và hợp lý, tăng cường sử dụng phân
hữu cơ sinh học, vi sinh. Chăm sóc theo yêu cầu sinh lý của cây. Kiểm tra đồng
ruộng phát hiện và kịp thời có biện pháp quản lý thích hợp đối với sâu, bệnh
2.
Biện pháp sinh học:
Hạn chế sử dụng các loại thuốc hóa học có độ độc cao để bảo vệ các loài
ong ký sinh của ruồi đục lá, các loài thiên địch bắt mồi như nhện, bọ đuôi
kìm…Sử dụng các chế phẩm sinh học trừ sâu bệnh
3.
Biện pháp vật lý: Sử dụng bẫy màu vàng, bôi các chất bám
dính: dùng nhựa thông (Colophan) nấu trộn với nhớt xe theo tỉ lệ 4/6, bẫy Pheromone dẫn dụ côn trùng
Có thể sử dụng lưới ruồi cao từ 1,5-1,8m che chắn
xung quanh vườn hạn chế ruồi đục lá, sâu, côn trùng gây hại bay từ vườn khác
sang
4.
Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo
nguyên tắc 4 đúng (đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, đúng thuốc) và nhớ đọc
kỹ hướng dẫn sử dụng thuốc trước khi dùng. Phun khi bệnh chớm xuất hiện
Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi thật cần thiết và theo
các yêu cầu sau:
+ Không sử dụng loại thuốc cấm sử dụng cho rau
+ Chọn các thuốc có hàm lượng hoạt chất thấp, ít độc
hại với thiên địch, các động vật khác và con người
+ Ưu tiên sử dụng các thuốc sinh học (thuốc vi sinh
và thảo mộc)
Chúc các bạn có được những cây dâu tây sạch bệnh và
phát triển tốt nhất
Bạn muốn yêu cầu về Thông Tin Cây hoa,Cây Trồng nào hãy Hoàn tất biểu mẫu dưới đây. Chúng tôi sẽ trả lời thư của các bạn, xin vui lòng khai báo đầy đủ. Hân hạnh phục vụ và chân thành cảm ơn sự quan tâm, đóng góp ý kiến đến Hoa Đẹp Việt Nam











